Sức khỏe

Chỉ số men gan là gì? Tìm hiểu các chỉ số và ký hiệu trong men gan

Chỉ số men gan là các thông số xét nghiệm cho biết nồng độ của các enzyme tại gan. Giá trị xét nghiệm thu được về chỉ số men gan rất có ý nghĩa trong việc đánh giá về tình trạng của gan, bình thường hay bất thường. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các chỉ số quan trọng này. 

Chỉ số men gan là gì?

Gan có hệ thống enzyme hỗ trợ việc thực hiện các chức năng tại gan, do các tế bào gan giải phóng ra. Khi các tế bào gan bị già và chết theo quy luật tự nhiên, các enzyme gan sẽ được phóng thích vào máu. Thông thường, mỗi một loại men gan ở trạng thái cơ thể người khỏe mạnh sẽ có một giá trị ở mức bình thường khác nhau.

chi-so-men-gan

Chỉ số xét nghiệm men gan

Chỉ số men gan là nồng độ men gan trong cơ thể con người đo được sau khi tiến hành các xét nghiệm về gan. Thông qua các chỉ số men gan, bệnh nhân sẽ biết được mình có mắc bệnh men gan cao hay không khi so sánh chỉ số đo được với chỉ số men gan người bình thường. 

Từ xét nghiệm men gan, bác sĩ có phương pháp kiểm soát và cải thiện chức năng của gan kịp thời, có thể xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh và có biện pháp điều trị bệnh tốt nhất. 

Các chỉ số men gan

Thông thường, có 4 loại men gan thường được tiến hành xét nghiệm là chỉ số ALT, AST, GGT, ALP. 

Chỉ số AST (SGOT)

AST là tên viết tắt của Alanine Transaminase, là một enzyme chuyển hóa được phát hiện không chỉ ở gan, mà còn ở thận, tim và cơ. Nó là enzyme xúc tác cho các phản ứng chuyển hóa chất. Bất kỳ loại tổn thương gan nào cũng có thể gây ra sự gia tăng ALT. Sự gia tăng lên đến 300 IU / L không phải là đặc trưng cho gan, mà có thể là do tổn thương của các cơ quan khác như thận hoặc cơ.

ky-hieu-men-gan

Chỉ số men gan AST là tên viết tắt của Alanine Transaminase

Khi ALT tăng lên hơn 500 IU / L, nguyên nhân thường là từ gan. Có thể do viêm gan, tổn thương do thiếu máu cục bộ ở gan, do độc tố gây tổn thương gan. Mức ALT trong Viêm gan C tăng cao hơn trong Viêm gan A và B. Tăng ALT dai dẳng hơn 6 tháng được gọi là viêm gan mãn tính.

Bệnh gan do rượu, Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD), tích tụ chất béo trong gan khi béo phì ở trẻ em, viêm gan nhiễm mỡ (viêm của bệnh gan nhiễm mỡ) có liên quan đến sự gia tăng ALT. Tăng ALT cũng liên quan đến giảm phản ứng insulin, giảm dung nạp glucose, tăng axit béo tự do và chất béo trung tính. Hội chứng gan sáng (gan sáng trên siêu âm gợi ý gan nhiễm mỡ) với ALT tăng cao gợi ý cho chẩn đoán về hội chứng chuyển hóa.

Trong thai kỳ, nồng độ ALT sẽ tăng trong tam cá nguyệt thứ hai. Trong một trong những nghiên cứu, nồng độ ALT cao liên quan đến các hội chứng trong thời kì thai nghén như chứng nôn nhiều ối là 103,5 IU / L, tiền sản giật là 115, hội chứng HELLP là 149. Mức ALT sẽ giảm hơn 50% trong ba ngày sau khi sinh con . Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tiêu thụ caffeine có thể làm giảm nguy cơ tăng ALT ở những người uống rượu, người thừa cân, rối loạn chuyển hóa glucose và viêm gan vi rút. 

Chỉ số ALT (SGPT)

ALT là viết tắt của Aspartate transaminase, là một loại enzyme xúc tác cho các phản ứng chuyển hóa. Nó được tìm thấy với nồng độ cao nhất ở gan, sau đó là tim, cơ, thận, não, tuyến tụy và phổi. Phạm vi tồn tại rộng của AST ở các cơ quan khiến AST là chỉ số kém đặc hiệu về tổn thương gan so với ALT.

Sự gia tăng AST trong máu liên quan đến hoại tử mô trong nhồi máu cơ tim và bệnh gan mãn tính. AST đặc biệt tăng lên rõ rệt ở những người bị xơ gan. AST có thể được giải phóng từ nhiều loại mô khác nhau.

cac-chi-so-men-gan

Chỉ số AST tăng rõ rệt ở bệnh nhân xơ gan

AST tăng ở một số tình trạng bệnh lý trong thai kì như chứng đái rắt, AST có thể lên tới 73 IU / L, 66 IU / L trong tiền sản giật và 81 IU / L trong hội chứng HELLP.  

Chỉ số GGT

Chỉ số GGT là viết tắt của Gamma glutamyl transpeptidase. GT là một enzyme được tìm thấy trong tế bào gan, tế bào biểu mô đường mật, ống thận, tuyến tụy và ruột. Nó giúp chuyển hóa glutathione bằng cách vận chuyển các peptide qua màng tế bào.

Giống như ALP, các phép đo GGT thường tăng nếu có tình trạng ứ mật. Trong bệnh viêm gan siêu vi cấp tính, mức GGT có thể đạt đỉnh vào tuần thứ 2 và thứ 3 của bệnh, và vẫn tăng ở tuần thứ 6 của bệnh. GGT cũng tăng cao ở 30% bệnh nhân viêm gan C. GGT có thể tăng gấp 10 lần ở những người nghiện rượu.

chi-so-ggt

Chỉ số GGT có thể tăng gấp 10 lần ở những người nghiện rượu

GGT có thể tăng gấp 2 đến 3 lần ở 50% bệnh nhân mắc bệnh gan không do rượu. Khi mức GGT tăng cao, mức chất béo trung tính cũng tăng theo. Với điều trị bằng insulin, mức GGT có thể giảm. Các nguyên nhân khác gây tăng GGT là: đái tháo đường, viêm tụy cấp, nhồi máu cơ tim, chán ăn tâm thần, hội chứng Guillain – Barré, cường giáp, béo phì và loạn dưỡng cơ.

Trong thời gian mang thai, hoạt động của GGT bị giảm trong tam cá nguyệt thứ 2 và 3. Phụ nữ mắc chứng bệnh nôn nghén, giá trị mức GGT có thể đạt 45 IU / L, 17 IU / L trong tiền sản giật, và 35 IU / L trong hội chứng HELPP.

Chỉ số ALP

Alkaline phosphatase (ALP) là một loại enzyme trong các tế bào ống dẫn mật của gan. Nó cũng có thể được tìm thấy trên biểu mô niêm mạc của ruột non, ống lượn gần của thận, xương, gan và nhau thai. Nó đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa lipid ở ruột non và quá trình canxi hóa của xương. 50% của tất cả các hoạt động ALP huyết thanh trong máu là do xương đóng góp. 

chi-so-men-gan-alp

Viêm gan siêu vi cấp tính thường có ALP bình thường hoặc tăng

Viêm gan siêu vi cấp tính thường có ALP bình thường hoặc tăng. Ví dụ, viêm gan A làm tăng ALP do ứ mật (suy giảm sự hình thành mật hoặc tắc nghẽn dòng chảy của mật) và sẽ có đặc điểm ngứa kéo dài. Các nguyên nhân khác bao gồm: bệnh gan thâm nhiễm, bệnh gan u hạt, áp xe, bệnh amyloidosis của gan và bệnh động mạch ngoại vi. ALP tăng nhẹ có thể gặp trong bệnh xơ gan, viêm gan và suy tim sung huyết. Tăng phosphat máu thoáng qua là một tình trạng lành tính ở trẻ sơ sinh, và có thể đạt mức bình thường sau 4 tháng. Ngược lại, mức ALP thấp được tìm thấy trong suy giáp, thiếu máu ác tính, thiếu kẽm và giảm photphat.

Hoạt động ALP được tăng lên đáng kể trong tam cá nguyệt thứ ba do tăng tổng hợp từ nhau thai. Trong các tình trạng thai nghén như chứng nôn nhiều, mức ALP có thể đạt tới 215 IU/L, trong khi đó, ở tiền sản giật, ALP có thể đạt 14 IU / L và trong hội chứng HELLP, mức ALP có thể đạt 15 IU / L. 

Bảng chỉ số men gan bình thường và nguy hiểm

Chỉ số men ganAST (GOT)ALT (GPT)GGTLDH
Chỉ sốTăng nguy cơ tử vongChỉ sốTăng nguy cơ tử vong
Bình thường20 – 40 UI/L20 – 40 UI/L20 – 40 UI/L30 – 40 UI/L
Tăng nhẹ40 – 80 UI/L32%40 – 80 UI/L21%40 – 80 UI/L40 – 80 UI/L
Tăng trung bình80 – 200

UI/L

78%80 – 200

UI/L

59%80 – 200

UI/L

80 – 200

UI/L

Tăng cao> 200 UI/L78%> 200 UI/L59%> 200 UI/L> 200 UI/L

Bài viết của chúng tôi đã cung cấp cho quý vị về thông tin chi tiết các loại men gan. Hy vọng qua bài viết này sẽ giúp các bạn có cái nhìn tổng quan về các chỉ số men gan trong xét nghiệm mà mình được bác sĩ chỉ định thực hiện ở bệnh viện khi đi khám các bệnh về gan. Chúc các bạn sức khỏe tốt.

Comments
Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bản đồ Zalo Messenger Gọi ngay
Gọi ĐT tư vấn ngay
Chat ngay qua Messenger
Chat ngay qua Zalo
Xem bản đồ chỉ đường